Trang ChínhPortalGalleryThành viênĐăng kýĐăng Nhập
Tìm kiếm
 
 

Display results as :
 
Rechercher Advanced Search
Latest topics
» SỮA CHUA PHÔ MAI
Today at 8:44 pm by Admin

» CHƠN KHÔNG
Yesterday at 9:49 pm by Admin

» CHỈ ÔNG CHỦ
Yesterday at 9:32 pm by Admin

» LỢI ÍCH CỦA TU THIỀN
Yesterday at 9:28 pm by Admin

» CHỈ THẲNG CHƠN TÂM: CHƠN KHÔNG-THƯỜNG CHIẾU
Yesterday at 8:01 pm by Admin

» VÀO CỬA KHÔNG
Yesterday at 7:58 pm by Admin

» CHÂN KHÔNG DIỆU HỮU
Yesterday at 7:57 pm by Admin

» TÁNH KHÔNG
Yesterday at 7:56 pm by Admin

» 6 Early Warning Signs Of Dementia Every Woman Should Know
Mon Feb 19, 2018 11:45 pm by Admin

» THIỀN BỆNH
Mon Feb 12, 2018 6:17 pm by Admin

» THIỀN OSHO
Fri Feb 09, 2018 12:00 am by Admin

» TU THIỀN CÓ CHỨNG ĐẮC HAY KHÔNG ?
Thu Feb 08, 2018 9:13 pm by Admin

» TÂM YẾU NHÀ THIỀN
Tue Feb 06, 2018 5:36 pm by Admin

» BÁNH MÌ SỮA DỪA
Tue Feb 06, 2018 1:35 pm by Admin

» Mứt Rau Câu
Tue Feb 06, 2018 1:33 pm by Admin

» Mochi khoai lang
Mon Feb 05, 2018 1:41 am by Admin

» TÂM KINH BÁT NHÃ QUA CÁI NHÌN CỦA NHÀ THIỀN (tiep theo)
Sat Feb 03, 2018 12:56 am by Admin


Share | 
 

 TÂM KINH BÁT NHÃ QUA CÁI NHÌN CỦA NHÀ THIỀN (tiep theo)

Go down 
Tác giảThông điệp
Admin
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 2866
Đến từ : Rain City
Registration date : 10/06/2008

Bài gửiTiêu đề: TÂM KINH BÁT NHÃ QUA CÁI NHÌN CỦA NHÀ THIỀN (tiep theo)   Sat Feb 03, 2018 12:56 am


*Tiếp theo là THỰC HÀNH SÂU

Thực hành sâu là sao? Sao gọi là sâu? sao gọi là cạn? Tức là phải đi sâu vào cho chìm tuốt trong đó hay sao? Cho nên học chữ nghĩa là không tu được.

Thực hành sâu tức là lúc nào cũng thấy như vậy không có quên, lúc thấy lúc quên là chưa sâu, tức là còn cạn. Còn lúc nào cũng thấy như vậy đó mới là sâu; nghĩa là lúc nào cũng thấy năm uẩn đều không, không có gián đoạn thì đó là sâu, đó là thuộc lòng Bát Nhã. Được như vậy đó thì mới qua khỏi mọi khổ ách. Cho nên trong Kinh nói, Bồ Tát thực hành sâu thì qua khỏi khổ ách.

Còn mình nghe thì cũng thấy như vậy, cũng thấy “Không”, nhưng ở trong giảng đường thấy “Không” mà ra ngoài đường thì thấy “Có”, đó là không có sâu.

Nếu tụng Bát Nhã như vậy đó thì tụng hoài cũng vẫn khổ như thường. Bởi vì khi tụng thì thấy giống như là nó “Không,” nhưng hết tụng thì thấy “Có” rồi. Vậy thì đụng chuyện tức thấy khổ thôi!

Cho nên ở đây luôn luôn lúc nào cũng thấy năm uẩn là “Không”, tức là không có ngã; không có ngã thì cái gì khổ? Đó là hết khổ, thực tế là như vậy.

Xưa Tổ Sư Tử khi bị ông vua Kế Tân tới xin cái đầu thì ngài nói là:

- Năm Uẩn còn không thì xá chi cái đầu.

Bèn đưa đầu cho chặt mà không thấy khổ, là chính chỗ đó! Bởi lúc nào cũng thấy nó là “Không” thì mới gọi là nằm lòng Bát Nhã, là qua mọi khổ ách, thực hành sâu là phải như vậy đó.

Khi thực hành sâu Bát Nhã thấy năm Uẩn đều “Không” rồi, đoạn dưới mới nói rằng:

*SẮC CHẲNG KHÁC KHÔNG, KHÔNG CHẲNG KHÁC SẮC, SẮC TỨC LÀ KHÔNG, KHÔNG TỨC LÀ SẮC.

Chữ “tức không” người học Bát Nhã luôn bị lúng túng ở chỗ đó. Sao gọi là:

*Sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc, sắc tức là không, không tức là sắc?

Chỗ đó thực khó hiểu! Nói sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc, là còn một lớp so sánh, cái này không khác cái kia. Nhưng nói “tức” là chỉ thẳng ngay đó thôi, không còn so sánh nữa. Vậy sắc chẳng khác với không, không chẳng khác với sắc. “Chẳng khác” là sao? Rồi “tức” là sao?

Thường thường thì mình giải thích bởi vì sắc là chỉ cho sắc thân của mình đây, còn bên này là hư không, hai cái không có rời nhau; hoặc là sắc này cũng có hư không, có lỗ mũi, có miệng, trong bụng nó trống, thì sắc tức không phải không? Nếu “tức không” đó thì phải Bát Nhã chưa?

Cho nên ý nghĩa “sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc”, Thiền Sư Bạch Ẩn giải thích bằng một câu rất là lý thú, ngài giảng như thế này:

- “Một bát canh thật ngon, ôi thôi! hai cục cứt chuột!”

Một bát canh thật ngon, nhưng hai cục cứt chuột rớt vào trong đó thì quý vị thấy sắc chẳng khác không chưa? Bát canh đang ngon lành đàng hoàng, nhưng có hai cục cứt chuột vừa rớt vào thì sanh tâm phân biệt liền, tức nó làm chướng ngại ngay, thì ngay đó không chẳng khác sắc. Mới đầu tại sao nó không ngại gì hết, mà có hai cục cứt chuột vô thì nó ngại! Còn nếu mình quên được cái niệm phân biệt thì sao? Có thì gắp bỏ ra thôi, ăn cũng bình thường thì “sắc chẳng khác không” phải không? Đâu có ngại gì với mình, mà nó ngại là do Tâm Phân Biệt. Rõ ràng sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc là chỗ đó.

“Sắc tức không, không tức sắc”, thì dẫn câu chuyện này quý vị nghe nghiệm sẽ thấy:

Có một vị Thiền sư tên Kim Bích Phong, sau khi chứng ngộ, Sư buông hết mọi tham ái ở đời, nhưng còn cái bát ngọc ăn cơm Sư quý thích, cho nên thường giữ không rời bên mình. Mỗi lần trước khi nhập định Sư đem cái bát ngọc đó chùi rửa rất kỹ, để an tâm nhập định. Có một lần đó tuổi thọ sắp hết, vua Diêm La sai quỷ đến bắt. Thiền Sư Kim Bích Phong tự biết thời mình sắp hết, cho nên Sư mỉm cười nhập định để xem vua Diêm La làm gì. Khi quỷ sứ đến bắt, thì nó đến bên cạnh Sư, đi lòng vòng một ngày, hai ngày mà không bắt được, không thấy Sư ở đâu mà bắt, cuối cùng thì quỷ sứ không biết làm sao mới đi hỏi ý kiến Thổ Địa thì Thổ Địa bảo rằng:

- Vị Thiền Sư Kim Bích Phong này, ngày thường Sư rất thích cái bát ngọc, cho nên bây giờ nếu mà ông có cách gì đem cái bát ngọc đó đi, làm sư động niệm sẽ xuất định thì ông bắt được liền.

Quỷ nghe biết rồi, nó đi đến chỗ cái bát của Sư, làm lay động cái bát vang ra tiếng động, khiến sư nghe mà động niệm. Quả là Thiền Sư Kim Bích Phong nghe thấy tiếng bát lay động, Sư động niệm xuất định để giữ cái bát lại, thì ngay đó Quỷ liền vỗ tay cười to:

- Hay, hay, bây giờ đây thì xin mời Ngài đi theo chúng tôi đến gặp Diêm Vương.

Thiền Sư Kim Bích Phong ngay đó tỉnh lại liền, Sư biết rõ do tâm tham ái cái bát của mình đó, làm mất đi huệ mạng ngàn năm. Cho nên Sư liền đập vỡ cái bát rồi nhập định trở lại, và nói bài kệ, nguyên văn chữ Hán là:

Nhược nhơn dục nã Kim Bích Phong
Trừ phi thiết luyện tỏa hư không
Hư không nhược năng tỏa đắc trụ
Tái lai bả ngã Kim Bích Phong.

Tức là:

Nếu người muốn bắt Kim Bích Phong
Trừ khi sắt luyện khóa hư không
Nếu hay khóa được hư không ấy
Trở lại bắt ta Kim Bích Phong.

Ngay đó Sư nhập Niết Bàn vô trụ luôn, Quỷ hết bắt được. Chính đó quý vị thấy “sắc tức không” chưa?

Cũng ngay sắc thân này, nhưng ban đầu Quỷ tới liền không thấy, như vậy là “sắc tức không”; động niệm Quỷ thấy liền, thì “không tức sắc” vậy thôi! Ngay đó mà không động niệm thì “sắc tức không”, động niệm liền có tướng là “không tức sắc”. Nếu mình thấy được như vậy đó thì không còn ngăn ngại.

Một ý nghĩa nữa, ở trong sắc thân này là đất, nước, gió, lửa, nó hợp lại thành. Khi mình thấy đất thì cái thấy này không bị đất làm ngăn lại, thấy nước không bị nước nhận chìm, thấy lửa không bị lửa đốt cháy, thấy gió mà gió cũng không thổi bay được thì “sắc tức không ” chứ gì!

Lửa làm sao đốt được cái thấy này, gió có thổi bay được cái thấy này không? Vậy thì ngay nơi sắc tức không chứ gì nữa! Còn mình thấy lửa là bị lửa đốt liền, bởi sao?Bởiđộng niệm. Như vậy chỗ “sắc tức không” rất đơn giản mà mình tưởng tượng quá nhiều phải không?

Nói rõ lại cho quý vị thấy, sắc ở đây là chỉ sắc uẩn chứ không gì hết. Cho nên câu nói sau: Thọ, tưởng, hành, thức cũng lại như thế. Nếu mình quán một cách gần gũi hơn thì quán “sắc tức không” làm sao? Ở trên là nói chỗ chứng nghiệm. Còn bây giờ mình quán để phá cái niệm chấp trước, thì sắc là đối với cái Tâm mà có. Sở dĩ có sắc này là bởi vì có Tâm nó kết hợp, nếu quý vị ngồi tất cả đây mà không có tâm thì sao? Thì vào nghĩa địa, phải không? Cho nên hai cái kết hợp nhau thì mới có. Có Tâm cho nên mới rõ được sắc, cũng như có sắc mới rõ được tâm. Có sắc thân này thì mình mới rõ trong này nó có Biết. Trong Ngộ Tánh Luận, Tổ Sư nói rằng:

- “Sắc không có tự sắc mà do tâm nên có sắc, cũng vậy tâm không có tự tâm, do sắc nên có tâm, nên biết hai tướng đó đều sanh diệt.”

Do tâm mình nên mới có sắc này, cũng như do sắc mình mới biết có tâm này, hai cái nương nhau mà có. Đã nương nhau mà có tức rời nhau thì sao? – Thì không, thì diệt. Vậy thì ngay có đó tức là không rồi.

Còn nếu xét theo nghĩa hòa hợp, thì sắc là bốn đại hòa hợp. Bốn đại là đất, nước, gió, lửa, bốn thứ đó tự nó, nó có thành sắc được không?- Tự nó không thành sắc được mà phải đợi bốn cái hòa hợp, thì nó cũng không thật, tức cũng là “tức không”. Ngay đó tách rời ra bốn cái thì tìm sắc chỗ nào?

Cho nên “tức không” là phải hiểu chữ “không” đó một cách thật kỹ. Chữ “Không” này là không gì? – Không phải là “không” đối với “sắc”, không phải cái “không” đó là cái hư không này, đối với sắc này, cũng không phải là hư không trong lỗ mũi, trong lỗ miệng. Chính cái “không” này là cái “không” của Bát Nhã.

Chính Bát Nhã mới thấy suốt được cái thể “không” này. Còn cái không của hư không, của lỗ mũi, của lỗ miệng này thì sao? – Thì con mắt thịt này nó cũng thấy. Bởi cái “không” này là cái “không” của Bát Nhã, nên phải Bát Nhã mới thấy, phải hiểu được ý đó.

Như vậy nói “tức không” là ngay nơi thân này, không thể lìa thân này mà có được. Tức là do trí Bát Nhã mình thấy suốt qua cái thân này, nó không có cái tự thể của nó, mình không bị cái thân tướng này nó che mờ trí Bát Nhã đó thì đó là “tức không”. “Tức không” là ở trong Bát Nhã mà thấy. Còn ngoài Bát Nhã mà giải thích cái gì đi nữa thì cũng chưa phải?

Còn chữ “Tức” là sao? Chữ “tức” là muốn chỉ nó không thể tách rời, tức là hai cái không thể tách rời nhau. “Sắc - không” không thể tách rời, mà không thể tách rời là để nói rõ nó không tự tánh. Do không có tự tánh riêng của nó, nên cái này tức là cái kia thôi! chứ không thể tách rời ra để mà chỉ được. Đó cũng là cái ý muốn chỉ: Ngay đó dứt niệm “có – không.”

Ngay “sắc” tức là “không” rồi thì đâu phải bỏ sắc để tìm cái không, cho nên không có niệm “có”, niệm “không” trong đó, như vậy mới là Bát Nhã.

Đó là nói cái lý nó là như vậy, nhưng bây giờ mình chưa được như vậy thì quán làm sao để thấy? Thì đây là phương tiện để quán:

- Thân này do bốn đại hòa hợp phải không?- Thì đó là sắc thân. Mỗi đại nó có đặc tính riêng của nó. Đất thì cứng, nước thì ướt, lửa thì nóng, gió thì động, mỗi cái có cái riêng của nó. Vậy trước khi bốn đại này hòa hợp thì cái sắc này nó ở đâu? Tìm không ra, nhưng mà ngay khi bốn đại hòa hợp thì thấy nó có. Cho nên Ngài Tử Bá hỏi ông Tăng:

- Nay cái thân hiện tại của ông do đâu mà có được?

Ông Tăng đáp:

- Tạm mượn bốn đại mà có.

Ngài Tử Bá hỏi tiếp:

- Trước khi bốn đại chưa nhóm thì thân này nó ở đâu?

Ông Tăng đáp:

- Thì thân vốn không có.

Ngài Tử Bá hỏi:

- Sau khi bốn đại tan rã thì nó ở đâu?

Ông Tăng đáp:

- Cũng không có.

Vậy trước khi nhóm thì không có, rồi sau khi tan rã cũng không có. Nhưng khi bốn đại hòa hợp thì nó tạm có. Tức chấp nhận nó có khi bốn đại hòa hợp. Khi nói vậy Ngài Tử Bá cười ha ha bảo:

- Ông tìm cầu cái thân trước khi bốn đại chưa nhóm và sau khi bốn đại tan rã thì đều không có, mà chỉ riêng cái thân hiện tại tạm mượn bốn đại mà có, phải không?

Như vậy lấy lý mà suy thì chẳng phải hai đầu không có mà giữa có hay sao? Hai đầu đã không, khoảng giữa riêng có, e là không có cái lý ấy (Tại sao hai đầu không có mà khoảng giữa có, sở dĩ có khoảng giữa là đối với hai đầu, hai đầu không có thì khoảng giữa làm sao có? Vậy mắc kẹt ở chỗ đó rồi.) Ông hãy suy nghĩ cho thật kỹ xem, trước có khoảng giữa rồi có hai đầu chăng? Hay là trước có hai đầu rồi sau có khoảng giữa?

Khoảng giữa là đối với hai đầu mà có, nếu hai đầu không có thì khoảng giữa cũng không. Tại sao mình chấp khoảng giữa có? Đó là chỗ mê lầm của mình. Cho nên nếu xét tột như vậy thì ngay đó “Tức không” chứ gì nữa! Đó là cách quán, quán kỹ như vậy mình sẽ tỏ rõ ngay “Sắc tức không” thôi.

Còn thọ tức không là sao?

Thọ tức là những cảm thọ, những cảm nhận nơi sáu căn, nó luôn luôn cũng đối đãi tức là luôn luôn phải thọ một cái gì đó, có một đối tượng để thọ. Quý vị thử thọ một cái gì không có đối tượng? Làm sao thọ? Như vậy thọ cũng “không” thôi. Nghĩa là thọ đó chỉ là đối duyên mà nó tạm có, chứ bây giờ bảo thọ mà không có đối tượng thì tìm không ra. Vậy “Thọ tức không” rõ ràng.

Tưởng cũng vậy,tưởng luôn luôn cũng phải tưởng về một cái gì đó, và nhất là nó luôn luôn nằm trong ba thời quá khứ, hiện tại, vị lai. Cái gì đó hoặc ở quá khứ, hoặc là ở hiện tại, hoặc là ở vị lai. Còn bây giờ quý vị tưởng cái gì mà không có đối tượng, không thuộc về quá khứ, hiện tại, vị lai, tưởng thử coi? Tưởng không ra, thì lúc đó tưởng ở đâu? Quả là “tưởng tức không” chứ gì!

Quán kỹ như vậy sẽ thấy “Tưởng tức không” liền, bởi vì tưởng nó không tự có, đối duyên mới tạm có. Tức là duyên khởi thì nó có, vậy thì khởi là duyên khởi, diệt là duyên diệt thôi, chứ nó thật không có cái tự tánh của cái tưởng diệt phải không? Vậy mà khi cái tưởng diệt thì mình thấy thật có cái tưởng diệt. Chính chỗ đó là chỗ khi mình tu dễ bị mắc kẹt, dễ bị lầm lẫn. Tức là có người lầm, khi ngồi thiền mà cái tưởng yên lặng rồi thì sao? - Thì tìm lại coi nó ở đâu? Lúc nãy nó tưởng nhiều quá, bây giờ nó yên lặng thì tìm lại coi nó ở đâu? Hoặc coi nó mất chỗ nào? Tìm cái chỗ hết của nó, nhưng nếu tìm cái chỗ hết của nó thì sao? Tức là muốn nó có lại, nó đã hết rồi còn tìm coi nó ở đâu, là muốn thấy nó lại, đó là chỗ mê lầm tế nhị!

Bởi vì lúc tưởng thì mình thấy có tướng này tướng kia, mình thấy hơi vui vui, cũng dễ hiểu. Khi nó lặng không thấy gì hết, không thấy nó đâu, thấy buồn mới tìm coi nó ở chỗ nào? Tìm ở chỗ nào tức là muốn thấy nó nữa, tức muốn nó có trở lại. Cho nên tu thì muốn nó lặng, nhưng nó lặng rồi thì muốn nó có trở lại, đó là cái lầm lẫn vô cùng! Thấy được chỗ đó thì mình mới không lầm chỗ tu hành của mình. Nếu nó lặng rồi thì ngay đó cái gì Biết lặng mà sáng suốt đó? Ngay đó sống thôi, còn tìm lặng chỗ nào chi nữa, phải hiểu được chỗ đó.

Còn hành, hành tức là những niệm niệm nghĩ ngợi sanh diệt luôn luôn liên tục đó. Thì niệm nó có cũng do gì? Cũng do đối tượng. Niệm, cũng phải niệm một cái gì đó, nghĩa là nương cái đối tượng thì nó có, còn không đối tượng thì nó không thành. Nếu thật sự tự tánh nó có thì nó phải hằng có đâu cần đợi có đối tượng. Nhưng giờ đây có đối tượng mới có, không đối tượng không có, thì rõ ràng không thật rồi.

Thứ hai nữa, đã gọi là niệm niệm sanh diệt, tức là luôn luôn nó tiếp nối không dừng. Vậy niệm niệm là sao? Tức là giữa hai niệm phải có kẻ hở phải không ? Nếu không kẻ hở thì chỉ một niệm thôi! mà đã gọi là niệm niệm thì phải có kẻ hở khoảng giữa. Vậy thì kẻ hở đó là gì? Cái gì nối liền khiến nó liên tục hoài vậy? Nếu không có cái nối liền tức nhiên nó hở rồi, nó hở thì làm sao liên tục được? Như vậy trong đó có cái gì nối liền làm cho nó liên tục hoài, khiến mình sanh tử đời này đời kia, cứ làm hoài vậy mà không mất?

Xét kỹ trong đó có cái gì thầm nối liền? - Chính là “Cái biết sờ sờ” đó! Thấy được chỗ đó mới là chỗ thường trụ, là chỗ sống thật. Còn theo cái niệm niệm đó là theo cái sanh diệt, đó là hành.

Rồi thức, tức là cái nhận biết phân biệt, cũng vậy thôi! Cái nhận biết phân biệt cũng luôn luôn là phải có nhận biết phân biệt một cái gì đó, chứ không thể nhận biết khơi khơi, phân biệt khơi khơi.

Ai thử phân biệt cái gì mà không thuộc đối tượng xem? Hoặc bây giờ phân biệt lại chính nó xem? Phân biệt cái này, phân biệt cái kia thì dễ, nhưng phân biệt trở lại chính nó thì làm sao phân biệt? -Tức ngay đó là hết phân biệt liền, nghĩa là “Thức tức không” chứ gì!

Quán như vậy không gián đoạn là phá được năm uẩn liền. Vậy rõ ràng năm uẩn đều là không, nó là pháp nhân duyên, mà đã là nhân duyên tức không tự tánh. Và “không” đây cũng là không ngã chứ gì? Đã không ngã thì cái gì khổ? Cho nên thấy năm uẩn không liền qua hết khổ ách là như vậy đó! Không có cái ta thì lấy ai khổ?

Xưa Quốc Sư Phật Quang trong thời cuối nhà Minh, khi bị quân Nguyên tràn qua thì Sư tị nạn ở chùa Năng Nhân ở Châu Ô. Khi quân Nguyên kéo đến, chúng trong chùa chạy hết chỉ một mình Sư còn ở lại thôi. Quân Nguyên tới thấy trong chùa chạy hết còn ông Sư này ngồi đây, chúng mới lấy dao lại khứa cổ Sư, sắc diện Sư vẫn tự nhiên không thay đổi gì hết, Sư còn nói thêm bài kệ:

Trời đất không chỗ để cắm dùi
Vui thật người không, pháp cũng không.
Xin thỉnh Đại Nguyên thanh kiếm bén
Trong ánh chớp lòa chém gió xuân.

Nguyên văn:

Càn khôn vô địa trát cô cung,
Thả hỷ nhân không pháp diệc không.
Trân trọng Đại Nguyên tam xích kiếm,
Điển quang ảnh lý trảm xuân phong.

Quân Nguyên thấy vậy cảm phục quá, sám hối đảnh lễ rồi đi.

Quý vị thấy, với ngài Phật Quang thấy chém như chém gió xuân vậy thôi! Không thấy ai bị chém trong đó nên không thấy có khổ. Còn mình thấy Tôi bị chém nên mới thấy khổ, khổ là chỗ đó. Bởi vậy khi sắp chết quý vị nhớ lại chỗ này, thấy không có Tôi trong này thì hết khổ. Còn nhớ có cái Tôi chết trong này là khổ liền, lẽ thật là như thế!

Quán năm uẩn tức không như vậy đó thì hết khổ, qua khổ ách, đó là một ý nghĩa.

*Một ý nghĩa nữa, Bát Nhã nói: Trong tướng “Không” là không tất cả, không mắt tai mũi lưỡi thân ý, không sắc thinh hương vị xúc pháp, không vô minh cũng không hết vô minh, không lão tử không hết lão tử, cho đến không trí không đắc, tức là trong tướng “Không” đó là không tất cả.

Vậy “Tướng Không” đó là gì mà nó không tất cả? Chỗ này phải nắm vững! Đó là chỉ Bát Nhã, “Tướng Không” đó là Bát Nhã. Ngoài con mắt Bát Nhã thì không thể rõ được “Tướng Không” này, phải không? Ngoài Bát Nhã thì lấy cái gì rõ được “Tướng Không” đó? Cho nên “Tướng Không” đây là chỉ Bát Nhã chứ không gì hết, tức là ngầm chỉ mình phải mở con mắt Bát Nhã. Mở mắt Bát Nhã thì rõ được “Tướng Không” này, thì nó mới không tất cả, chứ mình lý luận dù cho hay cách mấy mà chưa mở con mắt Bát Nhã thì cũng không dính dáng gì đến “Tướng Không” này, đó cũng là lý luận thôi. Bởi trong con mắt Bát Nhã đó thì nó không có một đối tượng nào, không là cái gì hết.

Còn con mắt này thì sao? Mắt này là đối với sắc, tai đối với tiếng, “trong đó” nó không tất cả mấy cái này. Vậy nên con mắt Bát Nhã, nó không là mắt, tai, mũi, lưỡi, nó không là sắc thinh hương vị xúc pháp, Cho đến không là lý Tứ Đế, không là lý Nhân Duyên, không là Trí, không là Đắc.

Nhưng có nhiều người hiểu lầm, cho rằng Bát Nhã phá hết, phá luôn cả lý Tứ Đế, phá luôn cả lý Nhân Duyên, thành ra chê bai Bát Nhã! Chỗ đó là chỗ rất lầm lẫn.

Ở đây phải hiểu rõ, nếu Bát Nhã mà là lý Tứ Đế thì sao? Thì nó thành ra cái bị biết rồi! Nó là cái lý Tứ Đế, vậy nó là cái đối tượng bị biết, nó là cái đối tượng bị hiểu. Như vậy mình quán lý Tứ Đế thì mình hiểu được nó, cho nên nó không phải là lý Tứ Đế.

Còn nếu Bát Nhã mà có trí, có đắc thì sao? -Thì có thêm cái Bát Nhã thứ hai nữa. Tức là có thêm cái Bát Nhã nữa để mà đắc, để mà thành trí, do đó ở đây nói nó “không” là vậy đó, không phải là bác bỏ lý Tứ Đế, bác bỏ lý Nhân Duyên. Ý sâu trong đây là để rõ: Bát Nhã này nó không phải là chỗ bị hiểu, khiến cho mọi người ngầm nhận ra trí Bát Nhã chân thật ấy. Rồi từ Bát Nhã chân thật này mình nhìn ra, thì nhìn cái gì cũng là sáng ngời hết, cũng không mê. Lúc đó mình mới rõ Tứ Đế, rõ được mười hai nhân duyên đúng như thật. Nghĩa là mở được mắt Bát Nhã rồi thì từ đó mình nhìn ra lý Tứ Đế, mình thấy lý Tứ Đế đúng như thật. Nhìn ra lý mười hai nhân duyên, thấy lý mười hai nhân duyên đúng như thật. Còn nếu chưa được vậy, dù cho nói Tứ Đế, nói mười hai nhân duyên cũng là trên văn tự thôi, ý là như vậy. Nhưng người không hiểu, nói Bát Nhã phá Tứ Đế, phá mười hai nhân duyên, rồi chê bai Bát Nhã. Gọi là Bát Nhã chấp không, đó là do mình còn mê lầm không thấy đúng.

Thí dụ như Thiền Sư là tu tối thượng thừa, nhưng mình thấy Thiền Sư có bác bỏ Tứ Đế không? Như Thiền Sư Đạo Ngộ ở Thiên Vương thường ngày Sư hay nói là: “Sống vui, sống vui”, đến khi sắp tịch liền kêu “khổ, khổ”. Rồi lại nói: “Diêm Vương tới bắt ta”. Ông viện chủ thấy vậy liền hỏi:

- Đương thời Hòa Thượng bị ông Tiết Sử ném xuống sông mà thần sắc chẳng động (Lúc Ngài còn sống có lần bị ông quan Tiết Sử bắt ném xuống sông mà sắc diện vẫn bình tĩnh không thay đổi). Hôm nay tại sao thế ấy?

Ngài Đạo Ngộ đưa chiếc gối lên bảo:

- Ông hãy nói đương thời là phải hay hôm nay là phải?

Ngay đó Sư có nói Khổ đế chưa? -Bình thường nói sống vui, nhưng khi sắp tịch nói: “Khổ khổ”, “Diêm Vương tới bắt ta”, đó là nói khổ đế bằng sự thật, nhưng không giải thích theo kiểu chữ nghĩa dài dòng. Bởi có thân là có khổ, chính sanh tử là khổ. Bình thường nói gì cũng hay, nhưng đến đây mới biết, đến chết mới biết. Đó là nói khổ đế quá rõ ràng rồi.

- Song với Thiền Sư thì sáng suốt biết rõ khổ cho nên không lầm theo cái khổ đó. Người đời bình thường nói này nói kia, nhưng đến đó thì rên rỉ, chính đó là khổ. Vậy Thiền Sư đâu có bác bỏ khổ, mà nói khổ đế rất rõ ràng thiết thực. Hoặc như bà già với Ngài Triệu Châu, bà hỏi:

- Con mang thân nữ bị năm dây ràng buộc gây chướng Phật tánh làm sao mà thoát?

Ngài Triệu Châu bảo:

- Bà hãy nguyện cho tất cả mọi người đều sanh lên cõi trời hết, còn riêng một mình già này phải tiếp tục chịu trầm luân một mình trong biển khổ.

Đó là nói tập đế, diệt đế, đạo đế trong đó hết rồi. Ai thấy không? Thiền Sư không giảng theo chữ nghĩa, người không hiểu tưởng đâu là Thiền Sư chê bai, mà không ngờ chính mình không hiểu mình chê bai đó không hay.

Bởi Tập Đế là gì? -Tập Đế là cái nhân đưa đến khổ đế, do cái nhân này mới có khổ, mà cái nhân đó là gì? Là cái chấp ngã, ái ngã. Do ái ngã này rồi tạo nghiệp mới chịu khổ. Thì đây, bà già mang cái thân này rồi chấp thân này là mình cho nên thấy nó trói buộc thành khổ! Tức là ái nó, thấy nó là mình nên khổ. Giờ đây Sư bảo:

- Thôi bà nguyện cho tất cả mọi người sinh lên cõi trời hết, còn một mình bà phải chịu trầm luân mãi mãi trong biển khổ này.

- Vậy tức là sao? Nguyện cho mọi người sanh lên cõi trời hết, một mình mình ở dưới này, tức là quên mình, quên cái ngã này mà hướng về tất cả mọi người, không còn nhớ đến mình nữa, mà không còn nhớ đến mình, không còn thấy mình thì lấy gì khổ? Đó là Sư giảng Tập Đế rất chính xác còn gì?

Quả thật do chấp có mình mới có khổ thôi! Còn bây giờ quên mình, không thấy có mình nữa thì lấy gì khổ? Mà không còn khổ thì an vui, đó là Diệt Đế chứ gì? Hết khổ an vui rõ ràng là Diệt Đế, mà mở một cái nhìn đúng đắn như vậy là cái gì? – Là đi trên đường Đạo Đế. Vậy quý vị thấy Thiền Sư nói Tứ Đế quá hay chưa? Đâu cần phải giải thích chữ nghĩa dài dòng, nhưng người không biết thì nói rằng Thiền Sư chê bai Tứ Đế, hoặc bảo Kinh Bát Nhã bác bỏ Tứ Đế, đó là cái thấy của mình thiên lệch, mình không hiểu đúng.

Trái lại ở đây, mình thấy rõ ràng Thiền Sư không nói Tứ Đế theo chữ nghĩa, mà nói chính xác bằng lý chân thật, bằng ngay sức sống chân thật đó. Những người không rõ xuyên tạc thế này thế kia là hiểu lầm thôi!

Vậy ai thấy nghĩa: Trong “Tướng Không” là không tất cả chưa? Nên nhớ cái “không” đó là cái “không ”của Bát Nhã .

*Cuối cùng Bát Nhã đưa đến thế nào?

- Nói không tất cả mà được tất cả. Trong bài Tâm Kinh, ai đọc kỹ, sẽ thấy rõ. Bởi vì Bát Nhã trước là phá hết, sau là được hết, chứ không phải phá một chiều. Trước là phá sạch không cho bám, ngay Bát Nhã cũng không cho mình chấp nữa, cho nên mới gọi là không trí không đắc, vì nếu còn có chỗ chấp tức là còn có cái Bát Nhã để cho mình được đó, thì thành ra có chỗ cho tình thức này nó suy nghĩ đến, đó là không phải thứ thiệt. Đó là còn trong phân biệt, trong hiểu biết. Trong đây thì quét sạch hết không cho bám, vì cái thức của mình nó nhạy lắm. Nếu còn có chỗ bám thì nó nhảy ra bám liền. Chúng ta nhớ Lục Tổ có lần Ngài thử Thần Hội, một hôm Ngài ở trong chúng bảo:

- Ta có một vật không đầu, không đuôi, không tên, không chữ, không sau lưng, không trước mặt mọi người có biết chăng?

Thần Hội lanh lợi liền bước ra nói liền:

- Đó là cội nguồn của Chư Phật, là Phật Tánh của Thần Hội.

Lục Tổ liền bảo:

- Ta đã nói với ông là không tên, không chữ, mà ông còn nói là cội nguồn, là Phật Tánh, thì sau này ông có ra trụ trì cũng là hạng tông đồ tri giải thôi.

Cho thấy cái thức nó bén nhạy như vậy đó! Tổ đã ngăn trước, đã đón đầu trước rồi. Ngài nói là không tên không chữ, mà Thần Hội còn nói rằng đó là Phật Tánh của Thần Hội. Mà nói Phật Tánh là có tên, có chữ rồi, cho nên Tổ quở! Bởi vậy ở đây Bát Nhã dẹp sạch hết, không cho còn một khái niệm gì thì mới thực sự là sống lại được Bát Nhã. Như vậy sạch hết tất cả mọi tình chấp rồi thì nó lại sáng ngời, chứ không phải “không”, là không có gì hết, đó là chỗ hiểu lầm.

Vì vậy Bát Nhã trước nói ở trong “tướng không” là “không mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, không sắc thinh hương vị xúc pháp…” Rồi “Bồ Tát y nơi Bát Nhã, tâm không ngăn ngại, do không ngăn ngại, nên xa hẳn mộng tưởng điên đảo đạt đến cứu cánh Niết Bàn. Chư Phật trong ba đời cũng nương Bát Nhã mà được đạo quả vô thường Bồ Đề”. Tới đây là được, như vậy đâu phải một bề là đoạn diệt.

Nhưng có người nói học Bát Nhã là chấp không, bởi vì mới đầu nghe một cách hời hợt, chỉ nghe Bát Nhã trước nói không mà quên chỗ sau này. Bởi Bát Nhã là phá chấp mà chấp không thì sao gọi là Bát Nhã? Cho nên câu chuyện có vị Tăng hỏi Ngài Tào Sơn:

- Thế nào là cây kiếm không mũi?

Sư đáp:

- Chẳng do rèn luyện mà thành.

Ông Tăng hỏi:

- Tác dụng của nó thế nào?

Sư đáp:

- Người gặp đều chết.

Ông Tăng hỏi:

- Còn người chẳng gặp thì sao?

Sư đáp:

- Cũng phải rơi đầu.

Ông Tăng hỏi:

- Người gặp đều chết thì đó là lẽ dĩ nhiên, còn chẳng gặp vì sao cũng rơi đầu?

Sư bảo:

- Ông chẳng thấy nói là hay sạch tất cả sao?

Ông Tăng lại hỏi:

- Khi sạch tất cả thì thế nào?

Sư đáp:

- Mới biết có cây kiếm này.

Nghĩa là trong đó gặp cũng chết, không gặp cũng chết. Gặp chẳng gặp là hai bên, mắc kẹt bên nào cũng chết. Với con mắt Bát Nhã thì quét sạch hết không còn mắc kẹt bên nào. Khi không còn mắc kẹt bên nào thì mới biết có Bát Nhã, cũng vậy khi sạch hết thì mới biết có cây kiếm này, chứ không phải sạch hết là không còn gì. Vậy thì đâu có rơi vào chấp “không”. Cũng như Ngài Triệu Châu khi tôn giả Nghiêm Dương đến hỏi:

- Khi mà con không có một vật gì đem đến thì sao?

Sư bảo:

- Hãy buông xuống đi !

Tôn giả thưa:

- Đã không một vật đem đến thì buông cái gì?

Triệu Châu bảo:

- Buông không được thì hãy vác lên đi.

Chỗ này Nghiêm Dương hỏi giống như còn muốn có cái gì thêm, thì Ngài Triệu Châu khéo léo bảo: “Hãy buông xuống đi”. Ông còn muốn có một cái gì nữa là còn phải buông nữa, bởi ông nói không một vật gì đem đến mà ông còn hỏi thế nào nữa, tức là muốn có một cái gì nữa rồi. Như vậy hễ còn có cái gì thì ông buông đi! Tôn Giả nói: “Đã không một vật gì đem đến mà buông cái gì?”. Thì Sư bảo: “Nếu thật không có gì buông được thì vác lên đi”. Chính chỗ không còn gì buông nữa thì chính là chỗ mình sống đó, chứ không phải đến chỗ đó là hết.

Mới đầu thì quét sạch hết tất cả sau thì được tất cả; còn mình muốn được tất cả là mất tất cả, nó ngược lại. Bởi vì được cái này rồi nó cũng mất, được cái kia rồi nó cũng mất, còn ở đây buông hết rồi thì sống trở lại với Bát Nhã, tức thấy suốt hết tất cả không còn lầm cái gì.

Tổ Lâm Tế bảo:

- Hễ gặp Phật thì giết Phật, găp Tổ giết Tổ, gặp A La Hán giết A La Hán, gặp cha mẹ giết cha mẹ, gặp thân quyến giết thân quyến, mới được giải thoát chẳng bị vật làm ràng buộc, mới giải thoát tự tại.

Hễ gặp thì giết luôn! Mình nghe nói thì chới với. Bởi vì đây là những lẽ thật các Ngài muốn nhắc mình. Giết là gì? Giết tức là không cho chấp ! Không cho chấp gì hết, gặp Phật cũng không được chấp, cha mẹ thân quyến cũng không được chấp. Vậy là không cho chấp vào một cái gì hết, thì ngay đó là giải thoát tự tại, làm sao bảo rằng “chấp không”? Cho nên Bát Nhã ban đầu là phá sạch hết để mình không chấp vào một cái gì , khi không còn chấp vào một cái gì hết thì chính chỗ đó là Bát Nhã sáng ngời, sống được chỗ đó rồi thì mình ra làm cái gì, mình thấy cái gì mới không mê lầm, trái lại làm cái gì cũng sáng suốt. Nếu còn một chỗ gì đó để mình bám thì có một chỗ đó để mê! Hiểu như vậy, liền thấy Bát Nhã đâu bảo mình chấp “không”. Bát Nhã đâu có phá bỏ pháp Phật như Tứ Đế, Nhân Duyên. Nhưng do mình không hiểu tới rồi cho rằng Bát Nhã phá bỏ, đó là hiểu lầm thôi!

*Cuối cùng trong Bát Nhã Tâm Kinh, Phật bảo rằng: “Đây là đại thần chú, đại minh chú, là vô thượng chú, là vô đẳng đẳng chú.”

Tức là bài Bát Nhã Tâm Kinh này, nó là một đại thần chú, là bài chú thần lực to tát. Một đại minh chú, là bài chú sáng rỡ to tát. Vô thượng chú, là bài chú không có gì trên nữa. Vô đẳng đẳng chú, là bài chú không có gì ngang bằng.

Vậy quý vị thấy học bài kinh Bát Nhã này khỏi cần trì chú cũng được rồi, phải không? Nói như vậy tức là có ý nghĩa gì trong đó? Bởi vì Bát Nhã có một thần lực rất to tát lớn lao, vượt ngoài sự hiểu biết của thế gian cho nên dụ như là thần chú, thần chú mà “đại” nữa thì mình không thể hiểu hết nổi.

- Tại sao nó có thần lực to tát lớn lao? Bởi vì Bát Nhã hay giúp cho mình thắng mọi thứ phiền não khổ đau, giúp đưa mình qua biển sanh tử thì có cái thần lực nào bằng cái thần lực đó? Nếu mình trì một câu chú nào đó, mình trì suông suông thì nó có thắng được phiền não không? Còn đây khi đã mở sáng được trí Bát Nhã thì từ trí Bát Nhã đó giúp mình thấy được lẽ thật của thế gian này, từ đó mình thắng được những phiền não. Chẳng những vậy, nó còn đưa mình qua dòng sanh tử nữa, thì nó là thần lực rất to tát không thần lực nào lớn hơn, cho nên ở đây gọi là đại thần chú.

Rồi đại minh chú, tức là bài chú có một sức sáng to lớn cũng không có gì bằng. Nghĩa là nó vượt ngoài mọi thứ ánh sáng của thế gian. Bởi vì Bát Nhã biết rõ tất cả pháp không có sót, không có lầm, chẳng những vậy nó còn phá tan mọi vô minh, mọi tối tăm của thế gian. Vậy thì có ánh sáng nào của thế gian hơn nó được? Những ánh sáng của thế gian thì sáng cách mấy cũng đâu thể phá vô minh, cho nên đây gọi là một bài chú đại minh.

Bởi vậy Tổ Bồ Đề Đạt Ma khi còn làm thái tử, một hôm Tổ Bát Nhã Đa La vào trong cung vua, được vua cha là vua Hương Chí cúng dường xong, mới dâng một hạt châu quý nhất trong nước. Lúc đó Tổ Bát Nhã Đa La đưa hạt châu lên để thử mấy vị vương tử ở trong cung, xem chỗ tâm đắc như thế nào. Tổ hỏi:

- Hạt châu này nó quý thế nào?

Vị vương tử thứ nhất đáp rằng:

- Đây là hạt châu quý nhất thế gian, trong nước không có gì quý hơn.

Vị thứ hai cũng đáp như vậy.

Tới Ngài Bồ Đề Đạt Ma nói:

- Hạt châu này nó là của báu của thế gian thôi, cũng chưa cho là tột nữa, mà trong các thứ báu chỉ có pháp bảo mới là tột.

Pháp bảo tức là cái báu của Phật pháp mới là tột, cái báu của thế gian thì nó cũng là vô thường thôi. Quý vị thấy nói như vậy mình tin nổi không? Mà sự thật là như thế. Thí dụ hạt châu báu này mà đưa cho đứa bé thì sao? Thì nó cũng làm cu ly nó bắn chơi thôi ! Thì đâu có quý gì ? Do có tâm phân biệt của mình, mình mới thấy quý.

Ngài nói thêm:

- Ánh sáng của hạt châu này nó chỉ là thứ ánh sáng của thế gian thôi! Nó cũng chưa cho là tột, trong các thứ ánh sáng chỉ có trí sáng mới là tột.

Trí tuệ sáng suốt mới là tột hơn hết, còn cái sáng của hạt châu cũng là của thế gian.

Và sự trong sáng của hạt châu này, nó là sự trong sáng của thế gian cũng chưa cho là tột, mà trong các thứ trong sáng chỉ có tâm trong sáng mới là trên hết, bởi vì sao? Bởi vì hạt châu này nó sáng chiếu nhưng nó chẳng hay tự chiếu, mà phải nhờ ánh sáng của trí tuệ. Để tỏ được cái báu của nó là từ nơi ánh sáng trí tuệ này mà biện biệt được. Trí tuệ đã biện biệt rồi thì mới biết nó là châu.

Tức phải nhờ có trí tuệ mới biết nó là châu báu, chứ còn tự nó, nó không biết là báu, vậy nó cũng không phải là tột. Cho nên trí tuệ mới là cái sáng hơn hết, mới là quý báu tột cùng hơn hết. Do đó ở đây Bát Nhã được gọi là bãi chú đại minh, tức cái sáng to tát hơn hết.

Bát Nhã là vô thượng chú: Tức là bài chú không có gì trên nó, nó vượt qua mọi ý niệm đối đãi. Nghĩa là giữa thế gian này không có cái thứ hai nào khác hơn nó nữa. Bởi vì có pháp nào vượt qua trí tuệ này? Như người xưa nói:

- “Mình vừa hiểu nó cũng bị nó trói, mà không hiểu cũng bị nó trói.”

Vậy còn cái gì hơn nữa không? Hiểu cũng bị nó trói mà không hiểu cũng bị nó trói? Tại sao? Không hiểu nó tức là mê mờ, còn hiểu nó thì thành ra cái thứ hai, tức là nó vượt qua đối đãi. Vậy nên nó là vô thượng chú, không có bài chú nào trên nó nữa.

Bát Nhã là vô đẳng đẳng chú: Tức là không có gì ngang bằng, luôn luôn hiện tiền không có gì gián đoạn, không bao giờ vắng mặt. Dù mình đang mê đây nó vẫn có trong mình. Nó không có cấp bậc, không có thứ lớp, vậy thì có cái gì ngang được? Cho nên gọi là bài chú vô đẳng đẳng. Nói gọn lại chính Bát Nhã là bài chú tuyệt diệu.

Vậy quý vị tụng Bát Nhã này khỏi cần trì chú thêm, bởi vì Bát Nhã này quý vị nghiền ngẫm kỹ sẽ thấy. Trí này vào lửa, lửa có cháy không? Vào nước, nước có nhận chìm được không? Đao chém có đứt không? Sanh tử làm gì được nó? Địa ngục nhốt nó được không? Như vậy thì còn cái gì hơn được nữa? Quả thật không có gì quý hơn, không có gì trên được nữa. Vậy thì còn cái gì phải tìm thêm? Lâu nay nhiều vị thấy mình tụng Bát Nhã hàng ngày quen quá, nghĩ phải tìm cái gì thêm nữa mới hay, mà không ngờ chính chỗ này mình nhận rõ để sống thì cái đó là quý tột rồi.

Có ông Tăng hỏi Ngài Tào Sơn:

- Cái gì là quý nhất trên đời?

Sư đáp:

- Cái đầu con mèo chết.

Ông Tăng hỏi:

- Vì sao cái đầu con mèo chết mà quý?

Sư đáp:

- Vì không ai trả giá.

Nghĩa là phải bặt hết niệm đối đãi hai bên đó. Trả giá là có mắc, có rẻ, mắc rẻ là niệm phân biệt mà niệm phân biệt là sanh diệt. Còn bặt được niệm sanh diệt là chỗ vô sanh, đó mới là chỗ quý nhất trên đời

Thì đây, trí Bát Nhã là chỗ bặt đối đãi, vậy có gì quý hơn? Cho nên có được Bát Nhã này thì khỏi còn sợ gì hết. Song, có mà sống được kìa, chứ có mà chưa sống được thì vẫn còn sợ như thường. Tức là biết có Bát Nhã mà sống được với Bát Nhã thì không còn gì phải sợ. Có câu chuyện: Thiền Sư Duyên Đức nhằm lúc triều đình đang sai vị tướng tên Tào Hàn đi hỏi tội hậu chủ Giang Nam. Vị đại tướng Tào Hàn này cùng với quân lính đi sang sông, rồi vào trong chùa Viên Thông ở Lô Sơn là nơi Thiền Sư Duyên Đức trụ trì. Lúc đó tăng chúng nghe thấy quân đội vào chùa, nên hoảng sợ chạy hết, chỉ còn một mình Ngài Duyên Đức ngồi tự nhiên bình thường. Tào Hàn đến, Sư vẫn ngồi bình tĩnh không thèm đứng dậy chào, cho nên ông tức giận, ông mới quát to:

- Trưởng lão! Ông không nghe nói có một vị tướng quân giết người không chớp mắt hay sao?

Ngài Duyên Đức nhìn thẳng vào tướng quân Tào Hàn và nói lại:

- Còn ông, ông không biết có ông hòa thượng không sợ sanh tử sao?

Ngay đó ông Tào Hàn này lấy làm lạ, từ đó mới đổi thái độ quí kính, rồi ông hỏi:

- Tại sao trong chùa này tăng chúng đi đâu hết?

Sư nói:

- Tại nghe có quân đến, nên họ tản đi hết, bây giờ muốn nhóm lại thì đánh chuông họ sẽ nhóm lại.

Tào Hàn tới đánh chuông nhưng không thấy ai nhóm, Sư mới nói:

- Tại vì ông còn có tâm sát.

Sư lại đánh đúng phép tắc trong chùa, đánh chuông để họp chúng, mọi người nghe biết mới họp trở lại.

Như vậy quý vị thấy, với Ngài Duyên Đức trước sự sanh tử kề cận, nhưng vẫn bình tĩnh là tại sao? Tức có sức sống Bát Nhã trong này, thấy rõ năm uẩn đều không, thấy rõ ràng như vậy thì còn gì phải sợ? Với cái chết không còn sợ thì sợ cái gì trên thế gian này nữa?

Vì vậy sống được với Bát Nhã thì không còn bài chú nào hơn nữa. Mình bây giờ sở dĩ phải đi nhờ trì chú là sợ bệnh, sợ chết chứ có gì đâu! Giờ đây chết còn không sợ thì còn gì nữa phải sợ? Vậy thì khỏi cần bài chú nào nữa, chỉ cần bài chú Bát Nhã này đủ rồi. Mình học bao nhiêu đó, tu suốt đời không hết.

Phật liền nói chú:

*Yết đế yết đế ba la yết đế, ba la tăng yết đế Bồ Đề tát bà ha.

Quý vị nghe vậy có nghi không? Học kinh là phải học cho kỹ! Ở trên đã nói Bát Nhã này là đại thần chú, đại minh chú, vô thượng chú, vô đẳng đẳng chú rồi, thì còn nói chú chi nữa? Nó là bài chú vô thượng, vô đẳng đẳng rồi, tại sao còn nói chú nữa?

Chính những chỗ này mình học chữ nghĩa thì không thể thấy được, học qua qua thôi, nói vậy thành dư hay sao? Có ý nghĩa gì trong đó? Bởi vì nói như trên nhưng cũng là nói trên chữ nghĩa thôi! Nói là đại thần chú, đại minh chú, cũng là chữ nghĩa, cũng còn có chỗ để người sanh kiến giải, người phân biệt. Đến đây, Phật nói bài chú ra liền, để chỉ: Bặt suy nghĩ! Nói bài chú này là hết suy nghĩ, hết phân biệt thì mới thể nhập được Bát Nhã. Còn nếu suy nghĩ phân biệt được là cũng hiểu trên chữ nghĩa, hiểu trên khái niệm thôi. Hiểu cho cao cách mấy đi nữa cũng là hiểu về Bát Nhã thôi chứ chưa thể nhập Bát Nhã. Còn ở đây là khiến mình phải thể nhập Bát Nhã, cho nên ý nghĩa rất là sâu xa trong đó.

Nếu nói theo Kinh Bát Nhã thì liền đó nói chú: “Yết đế yết đế…”, còn với Thiền thì liền đó nói chú: “Hét lên một tiếng!” Hét to một tiếng tức bặt suy nghĩ, còn ở đây nói yết đế yết đế mọi người cũng bặt suy nghĩ, không nghĩ được gì hết. Đó là chỗ tế nhị mà ít người thấy được.

Nghĩa là đến đây bặt suy nghĩ, bặt nghĩ ngợi, quên mọi kiến giải từ trước đến giờ. Vì mọi kiến giải hiểu biết đó cũng thuộc trên chữ nghĩa, quên hết các kiến giải hiểu biết đó thì mới thể nhập được thực tướng Bát Nhã hiện tiền. Cho nên đến chỗ này thì không có lý luận, nếu lý luận thì cũng lòng vòng thôi! Muốn hiểu nó thì lại càng trái. Nhưng mình nhiều khi cũng muốn hiểu, nghe câu yết đế yết đế… mình thấy sao lạ, không biết cái gì trong đó lại cố dịch ra. Dịch ra đọc dễ hiểu, người ta thích, không ngờ như vậy là đã rơi vào trong chữ nghĩa, là trái với Bát Nhã rồi mà không hay. Có dịch ra để cho hiểu, mà hiểu đó là hiểu cái gì? Khái niệm rồi. Thượng sĩ Tuệ Trung có mấy câu kệ nói rằng:

Năm cũ hoa cười, hoa năm mới
Đêm này nguyệt sáng, nguyệt đêm qua.

Rồi cuối cùng:

Ví hỏi rồi sao là cứu cánh?
Ma Ha Bát Nhã tát bà ha.

Hỏi đến chỗ cứu cánh thì sao? - Ma Ha Bát Nhã tát bà ha! Đó là chỗ cứu cánh, cứu cánh là đến chỗ đó thôi. Còn mình, cứu cánh lại muốn hiểu nữa!

Bởi vì cứu cánh là chỗ tự chứng, mà tự chứng là phải vượt ngoài chữ nghĩa, còn mắc kẹt vào chữ nghĩa là chưa cứu cánh, chưa thể nhập vào Bát Nhã. Những chỗ này là những chỗ sâu kín, nếu học qua loa khó thấu tột.

Trong nhà Thiền có ông cư sĩ Tế Xuyên. Một hôm nghe Ngài Đại Huệ thượng đường nhắc lại câu chuyện của Ngài Dược Sơn hỏi Hòa Thượng Thạch Đầu:

- Ba thừa mười hai phần giáo thì con cũng hiểu được chút ít, nhưng nghe ở phương Nam nói “chỉ thẳng tâm người, thấy tánh thành Phật”, thật con còn chưa hiểu rõ, cúi mong Hòa Thượng từ bi chỉ dạy.

Hòa Thượng Thạch Đầu bảo:

- Thế ấy cũng chẳng được, chẳng thế ấy cũng chẳng được, thế ấy chẳng thế ấy thảy đều chẳng được, ông làm sao?

Tức nói về tam tạng kinh điển thì Sư hiểu được chút ít, nhưng nói về thiền thì chưa hiểu? Thạch Đầu bảo: “Thế ấy cũng chẳng được, chẳng thế ấy cũng chẳng được. Thế ấy – chẳng thế ấy thảy đều chẳng được, ông làm sao?” Dược Sơn nghe vậy mờ mịt không hiểu gì, thì Thạch Đầu bảo:

- Duyên ông chẳng phải đây, thôi ông qua Giang Tây gặp Mã Đại Sư đi!

Dược Sơn đến Mã Tổ cũng hỏi lại câu đó. Mã Tổ bảo:

- Ta có khi thì dạy y nhướng mày chớp mắt, có khi chẳng dạy y nhướng mày chớp mắt, có khi dạy y nhướng mày chớp mắt là phải, có khi dạy y nhướng mày chớp mắt là chẳng phải. Vậy làm sao hiểu?

Nhưng ngay đó Dược Sơn liền đại ngộ.

Đại Huệ nhắc xong câu chuyện đó, thì ông cư sĩ Tế Xuyên mới đi theo đến phương trượng, ông thưa:

Vừa rồi Hòa thượng nhắc đến nhân duyên như thế, con đã lãnh hội rồi.

Ngài Đại Huệ bảo:

- Ông lãnh hội thế nào?

Cư sĩ Tế Xuyên thưa:

- Thế ấy cũng chẳng được, Tố rô ta bà ha. Chẳng thế ấy cũng chẳng được, Tất rị bà ha. Thế ấy chẳng thế ấy thảy đều chẳng được, Tố rô tất rị ta bà ha.

Ngài Đại Huệ nghe vậy liền gật đầu.

Quý vị thấy ông lãnh hội thế nào? Chỗ rốt ráo là như vậy đó! Thế ấy tức thuộc về có, chẳng thế ấy là không, cũng thuộc về hai bên, thế ấy chẳng thế ấy là vừa có vừa không, cũng là trong chữ nghĩa. Cho nên thế ấy cũng chẳng được, Tố rô ta bà ha, là không mắc kẹt nơi có. Chẳng thế ấy cũng chẳng được, tất rị ta bà ha, cũng không mắc kẹt nơi không. Thế ấy chẳng thế ấy thảy đều chẳng được, tố tô tất rị ta bà ha, vượt qua cả có – không, đó là lãnh hội được nghĩa thật trong ấy.

Còn mình thì muốn giải thích cho dễ hiểu mà dễ hiểu là chỉ hiểu trên chữ nghĩa, trên khái niệm. Cho nên ở đây cuối cùng là nói bài chú: “yết đế yết đế…” Ở trên đã nói Bát Nhã là đại thần chú, đại minh chú, nhưng đến đây nói chú nữa là ý nghĩa đó, chứ nhiều người cũng thắc mắc: “ở trên đã nói là đại thần chú rồi, còn nói chú chi nữa?”

Như vậy kết lại Bát Nhã là gì?

*** Xin xem tiếp link bên dưới:
http://www.thuongchieu.net/…/phapt…/thaytruclam/3905-tamkinh


_________________
Let the imagination eases your mind
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://timviet.forumsmotion.com
 
TÂM KINH BÁT NHÃ QUA CÁI NHÌN CỦA NHÀ THIỀN (tiep theo)
Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang
 Similar topics
-
» Đậu Hũ Bắc Kinh
» Truyện kinh dị của Stine
» Vịt quay Bắc Kinh và lá bánh ngô
» Những điều vô lý 'kinh điển' trong phim kiếm hiệp
» Những câu nói dối 'kinh điển' của đàn ông khi yêu

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
TIM VIỆT FORUM :: Trau Dồi Văn Chương/Literature :: Thư Viện Truyện - Tim Viet Library :: Kinh Sách của Các Tôn Giáo-
Chuyển đến